Nhân sự
Nguồn nhân lực doanh nghiệp Việt chưa đáp ứng yêu cầu Cách mạng 4.0
November 16, 2021

Tuy Việt Nam đang ở trong thời kỳ cơ cấu “dân số vàng”, nhưng nguồn nhân lực của nước ta, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao lại thiếu hụt về số lượng, hạn chế về chất lượng và bất cập về cơ cấu. Yêu cầu nguồn nhân lực có chất lượng cao ngày càng cấp thiết, trong khi đó, nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam hiện nay đang thiếu hụt cả về số lượng và kỹ năng tay nghề.

Yêu cầu của Cách mạng Công nghiệp 4.0 về nguồn nhân lực          

Nếu như trước đây, chúng ta tự hào vì Việt Nam có nguồn lao động dồi dào, giá rẻ, đáp ứng không chỉ nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu lao động ra nước ngoài. Thì giờ đây, trước những yêu cầu của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0, hai yếu tố đông và rẻ không còn được coi là thế mạnh của một nguồn nhân lực quốc gia. Cách mạng Công nghiệp 4.0 nổ ra đang biến chuyển xã hội từng ngày, đồng thời đặt ra những yêu cầu mới về việc làm, đòi hỏi nguồn nhân lực phải đáp ứng được các yêu cầu đó.

Yêu cầu thứ nhất của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 xuất phát từ quá trình chuyển đổi mạnh mẽ nhu cầu về nhân công giá rẻ sang nhu cầu về nhân lực có trình độ, kỹ năng cao. Đây là sự thay đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu với động lực chính là gia tăng năng suất lao động, hiệu quả sản xuất và tính cạnh tranh của các ngành kinh tế. Nhu cầu này là một yêu cầu tất yếu để đáp ứng những điều chỉnh có tính chiến lược của đất nước trong giai đoạn hiện nay.

Yêu cầu thứ hai về nguồn nhân lực đến từ việc hình thành các nhà máy thông minh, nhà máy số – nơi máy móc, thiết bị được kết nối, tự động ra quyết định toàn bộ hoạt động của nhà máy. Sự phát triển và ứng dụng nhanh chóng của các công nghệ hiện đại từ cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 đòi hỏi cần có nguồn nhân lực chất lượng cao vận hành các hệ thống thông minh. Yêu cầu này gắn với hoạt động đào tạo cho nguồn nhân lực sẵn có hoặc nhân lực mới.

Cách mạng Công nghiệp 4.0 yêu cầu nhiều hơn về nguồn nhân lực chất lượng cao

Yêu cầu thứ ba được đặt ra do quá trình hội nhập quốc gia và khu vực đang dần hình thành và phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi những thị trường lao động có tính chất khu vực và toàn cầu. Nhân lực chất lượng cao sẽ không chỉ đáp ứng được các yêu cầu, tiêu chuẩn trong nước mà sẽ cần phải tính tới những tiêu chuẩn và yêu cầu của thị trường nước ngoài. Không chỉ phải nâng cao kỹ năng chuyên môn, người lao động cần bổ sung khả năng ngoại ngữ nếu muốn đáp ứng được các vị trí công việc nhiều tiềm năng.

Thực trạng nguồn nhân lực hiện nay

Tuy Việt Nam đang ở trong thời kỳ cơ cấu “dân số vàng”, nhưng nguồn nhân lực của nước ta, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao lại thiếu hụt về số lượng, hạn chế về chất lượng và bất cập về cơ cấu. Tỉ lệ lao động phổ thông không có chuyên môn kỹ thuật chiếm số lượng lớn. Lực lượng lao động thiếu các kỹ năng cần thiết như: làm việc nhóm, giải quyết vấn đề, kỹ năng tin học, ngoại ngữ. Không chỉ vậy, nguồn nhân lực vẫn tồn tại tình trạng thiếu ý thức trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp chưa cao, chậm thích nghi với môi trường mới, năng lực đổi mới và sáng tạo khoa học, công nghệ còn nhiều yếu kém.

Cần thẳng thắn nhìn nhận, công tác đào tạo nhân lực nói chung, đào tạo nghề nói riêng những năm qua đã có những chuyển biến rõ nét nhưng vẫn chưa được như kỳ vọng, chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế. Đối với các nước có trình độ sản xuất phát triển, đang trong guồng quay của Cách mạng Công nghiệp 4.0 thì chất lượng lao động không còn là vấn đề lớn. Tuy nhiên, với nước ta hiện nay, muốn ứng dụng công nghiệp 4.0 đòi hỏi phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực bắt đầu ngay từ khâu đào tạo nghề.

Chất lượng nguồn nhân lực được quyết định bởi các chương trình bồi dưỡng, đào tạo

Yêu cầu nguồn nhân lực có chất lượng cao ngày càng cấp thiết, trong khi đó, nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam hiện nay đang thiếu hụt cả về số lượng và kỹ năng tay nghề. Đặc biệt, nguồn nhân lực chất lượng cao trong các ngành công nghệ thông tin, kỹ thuật máy tính, tự động hóa… của Việt Nam đang quá ít. Theo tính toán của các chuyên gia, nhu cầu nhân lực công nghệ thông tin tăng thêm 47% mỗi năm, trong khi đó số sinh viên ngành công nghệ thông tin ra trường lại chỉ tăng 8%/năm. Trong số nhân lực ấy, không phải tất cả đều có chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng. Một nghiên cứu mới đây cho thấy, có tới 72% số sinh viên ngành công nghệ thông tin không có kinh nghiệm thực hành, 42% số sinh viên thiếu kỹ năng làm việc nhóm.

Doanh nghiệp chưa thực sự chủ động về nhân lực

Để xảy ra những thực trạng bên trên, một phần nguyên nhân nằm ở chính các doanh nghiệp. Hiện có gần một nửa số lượng doanh nghiệp chưa có sự chuẩn bị về lực lượng lao động cho Cách mạng Công nghiệp 4.0. Trong đó, mới có 39,4% số doanh nghiệp đang xây dựng kế hoạch, 11,8% số doanh nghiệp đã có kế hoạch nhưng chưa triển khai và 6% số doanh nghiệp đã có kế hoạch và đang triển khai có kết quả. Thực tế từ cuộc khảo sát này cho thấy, các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã chậm trễ trong việc chuẩn bị lực lượng lao động cho công nghiệp 4.0.

Lý giải cho vấn đề này, nguyên nhân nằm ở công tác đào tạo của các doanh nghiệp. Có gần 80% số doanh nghiệp đã thực hiện đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho người lao động. Tuy nhiên không phải doanh nghiệp nào cũng đủ khả năng và điều kiện để tự đào tạo nhân lực cho mình. Vì vậy việc đào tạo cho lao động chưa có kỹ năng hay nâng cao kỹ năng thường được tự tổ chức. Ngoài ra, việc đào tạo các kỹ năng mới, kỹ năng liên quan đến công nghiệp 4.0 thường được các doanh nghiệp hợp tác với cơ sở đào tạo bên ngoài.

Doanh nghiệp nên chủ động hơn trong việc hợp tác với các cơ sở đào tạo nhân lực

Hiện nay, trong hợp tác với các cơ sở đào tạo, doanh nghiệp chủ yếu liên kết hoặc đặt hàng cơ sở đào tạo để đào tạo chính quy hoặc nâng cao năng lực. Doanh nghiệp vẫn chưa tham gia sâu hơn trong quá trình đào tạo, từ khâu tham gia xây dựng chương trình, cử cán bộ chuyên gia giảng dạy, đến khâu đánh giá kết quả đầu ra của đào tạo. Bởi vậy, đây cũng là những hình thức mà các doanh nghiệp mong muốn sẽ được tham gia nhiều hơn trong tương lai.

Tuy nhiên, hiện nay vẫn tồn tại nhiều yếu tố ngăn cản doanh nghiệp tham gia liên kết đào tạo có thể kể đến như thiếu cơ chế hợp tác lâu dài, thiếu sự tin tưởng vào năng lực đào tạo của các cơ sở đào tạo. Không chỉ vậy, hơn một nửa số doanh nghiệp được khảo sát cho biết công nghệ sản xuất của họ đơn giản nên chưa cần nâng cao trình độ kỹ năng lao động và thiếu chi phí đầu tư. Ngoài ra, tình trạng thiếu chuyên gia có khả năng tham gia vào quá trình đào tạo hoặc thiếu máy móc, công nghệ đáp ứng yêu cầu đào tạo cũng đang là trở ngại của khoảng một phần ba doanh nghiệp hiện nay.

Ngọc Hương

FWork
Cùng chủ đề
Nhân sự
Giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong nước giai đoạn Cách mạng 4.0
Nguồn nhân lực là yếu tố then chốt trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Phát triển nguồn nhân lực được coi là nhiệm vụ hàng đầu trong các chính sách phát triển từ cấp độ vi mô doanh nghiệp đến cấp độ...Read More
Nhân sự
Nguyên nhân khiến nguồn nhân lực Việt Nam chưa đáp ứng Cách mạng 4.0
Việt Nam đang chạy đua cùng các quốc gia trên thế giới trong cuộc Cách mạng 4.0 và nguồn nhân lực là một vấn đề quan trọng mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải quan tâm. Tuy có dân số đông và nguồn lao động dồi dào, nhưng số lượng lao động có trình...Read More
Nhân sự
Những nhầm lần cơ bản của doanh nghiệp về chuyển đổi số
Cuộc Cách mạng chuyển đổi số đang trở thành xu thế và lan tỏa mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Những băn khoăn trăn trở về chuyển đổi số, về công nghệ và về nguồn lực đang đè nặng lên vai trò trách nhiệm của người lãnh đạo các doanh nghiệp. Yếu tố đầu tiên...Read More